Chuyển đến nội dung chính

Hà thủ ô đỏ

Hà thủ ô đỏ
Tên khoa học:  Fallopia multiflora Polygonaceae
Tên gọi khác: Hà thủ ô đỏ
Mô tả: Dây leo, sống nhiều năm. Thân rễ phồng thành củ. Thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân. Lá mọc so le, có cuống dài. Phiến lá hình tim, đầu nhọn, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hạị mặt đều nhẵn. Bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt, ôm lấy thân. Hoa tự chùm nhiều nhánh. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau ở kẽ những lá bắc ngắn, mỏng. Bao hoa màu trắng, 8 nhụy (trong số đó có 3 nhụy hơi dài hơn). Bầu hoa có 3 cạnh, 3 vòi ngắn rời nhau. Đầu nhụy hình mào gà rủ xuống. Quả 3  góc, nhẵn bóng, đựng trong bao hoa còn lại, 3 bộ phận ngoài của bao hoa phát triển thành cánh rộng, mỏng, nguyên.

Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang. Một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn. Hiện nay, Hà thủ ô được trồng nhiều cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.

Thu hái, sơ chế: Thu hoạch vào mùa thu, khi lá khô úa, đào lấy củ cắt bỏ hai đầu, rửa sạch, củ to cắt thành miếng, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi thì tốt hơn.

Mô tả dược liệu: Rễ để nguyên hay cắt thành từng miếng lớn nhỏ không đều nhau. Loại nguyên hơi giống củ khoai lang lớn, mặt ngoài màu nâu đỏ có nhiều chỗ lồi lõm. Mặt cắt ngang để lộ lớp bần màu nâu đỏ, mô mềm. Vỏ màu nâu hồng có nhiều bột, giữa có gỗ hẹp. Chất cứng, hơi nặng, không mùi, vị hơi chát.

Tính vị: Vị ngọt, hơi đắng, cố sáp, tính hơi ấm

Quy kinh: Vào kinh can, thận

Thành phần hóa học: Chrysophanic acid, emodin, rhein, chrysophanic acid, anthrone, lecithin.

Công năng: Bổ huyết giữ tinh, hoà khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương, nhuận tràng.

Công dụng: Bổ máu, chống viêm. Chữa thận suy, yếu gan; thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém; sốt rét mạn tính, thiếu máu, ít sữa; các bệnh của phụ nữ sau khi đẻ, xích bạch đới; đau lưng, thấp khớp, di tinh, khí hư, đại tiện ra máu; đái buốt, đái dắt, đái ra máu (lao lâm); mẩn ngứa, bệnh ngoài da.

Uống lâu ngày chữa người già xơ cứng mạch máu não, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con; chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, hồi hộp chóng mặt, ù tai hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón; điều kinh bổ huyết.

Cách dùng, liều lượng: 12-20g một ngày, dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ. Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính là đậu đen.

Kiêng kỵ: Uống Hà thủ ô thì kiêng ăn hành, tỏi, cải củ. Đối với người có áp huyết thấp và đường huyết thấp thì kiêng dùng. Hà thủ ô kỵ sắt.

Bảo quản: Để nơi khô râm.

Ghi chú: Phân biệt với Hà thủ ô trắng là rễ củ của cây Hà thủ ô trắng, còn gọi là Dây sữa bò (Streptocaulon juventas Merr.), họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Các Lương y dùng Hà thủ ô trắng làm thuốc bổ máu, bổ can thận.

Nguồn: http://duoclieuvietnam.com.vn/duoc-lieu/ha-thu-o

Câu hỏi:
Tại sao khi chế biến phải kết hợp phụ liệu chính là đậu đen?
Tại sao lại kỵ sắt?
Tại sao khi dùng phải kiêng ăn hành, tỏi, cải củ?
Tại sao chống chỉ định đối với người có huyết áp, đường huyết thấp?

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Các nhóm chất có trong dược liệu

Các nhóm chất có trong dược liệu:
1. Muối vô cơ
2. Acid hữu cơ
3. Carbohydrate (Glucid) 4. Glycosid 5. Nhựa 6. Lipid (chất béo)
1. Muối vô cơ
Muối: dạng hòa tan trong dịch tế bào trong cây.
Muối Kali, Natri… clorid, sulfat, carbonat, phosphat...
Tác dụng: Muối tham gia điều hòa:
Áp suất thẩm thấu trong tế bào thực vật.
Áp suất thẩm thấu trong cơ thể động vật.

2. Acid hữu cơ
Acid hữu cơ:
Là hợp chất có chứa nhóm Carboxyl.
Có công thức chung là R-COOH (trong đó R là gốc Hydrocarbon)
Tồn tại dưới 3 dạng:
Tự do: vị chua, tập trung ở quả
Muối: giảm hoặc mất vị chua
Ester: làm cho quả chính có mùi thơm

Tác dụng:
Acid acetic, citric, tartric.. Dùng trong thực phẩm
Chanh, cam, mơ, me, sơn tra: lợi tiểu, nhuận tràng, kích thích tiêu hóa.
Acid benzonic, muối Natri benzoate: sát khuẩn, long đàm.
Acid quisqualic: diệt giun sán.

3. Carbohydrate (Glucid)

Monosaccharide (đường đơn)
Đường: Tên gọi chung của những chất hóa học thuộc nhóm phân tử cacbohydrat gồm:
Đường đơn hay monosaccarit, có vị ngọt đặc…

Cỏ ngọt

Cỏ ngọt
Tên khoa học: Stevia rebaudiana Asteraceae
Tên gọi khác: Cúc ngọt
Nguồn gốc: Châu Mỹ
Thành phần: Lá chứa (% chất khô) 6,2% protein, 5,6% chất béo, 52,8% từ carbohydrate, 15% Stevioside và khoảng 42% chất hòa tan trong nước.
Công dụng:
- Hiện nay được sử dụng như chất tạo vị ngọt thay thế đường trong chế độ ăn kiêng đường.
- Trong Đông Y, cỏ ngọt được sử dụng trong bài thuốc điều trị đái tháo đường, béo phì, bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch.

Lịch sử
Người Ấn Độ đã sử dụng trong nhiều thế kỷ loài Stevia rebaudiana để làm chất tạo ngọt và thuốc.
Năm 1931, nhà hóa học người Pháp đã phân lập một Glycoside có hương vị ngọt ngào từ lá của cây này. Chúng được gọi là Stevioside và cô lập như chất aglycone tạo ngọt. Vị ngọt của Stevioside được ước tính vào khoảng 300 lần mạnh hơn mía 4. Kể từ khi các phân tử khác dựa trên chất ngọt ít hơn được phân lập cùng aglycone, chúng có độ ngọt khác nhau từ 30-450 như các rebaudioside (AF), rubusoside, steviolbioside và dulcoside. Stevioside và reb…